Đăng ký   |    English
Trang chủPhát triển bền vững
Chính sách an sinh xã hội trong bối cảnh tái cấu trúc mô hình tăng trưởng
(18/08/2014)

An sinh xã hội (ASXH) được xác định là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bảo đảm an sinh xã hội là điều kiện để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ.


1. Chính sách an sinh xã hội và những vấn đề đặt ra

Từ nhiều năm qua, đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị - xã hội, phát triển bền vững. ASXH được xác định là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bảo đảm ASXH là điều kiện để bảo đảm định hướng XHCN cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ.

Đường lối, chủ trương và quan điểm của Đảng về ASXH đã được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật (Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bình đẳng giới, Luật Dạy nghề...), được hoạch định và triển khai thành hệ thống các chính sách ASXH liên quan đến các đối tượng khác nhau. Đồng thời, những cơ chế, chính sách nhằm huy động tốt hơn các nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng đặc biệt khó khăn vươn lên trong cuộc sống cũng được xây dựng và ngày càng hoàn thiện.

Những cơ chế, chính sách và giải pháp bảo đảm ASXH được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: 1) Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng thiết yếu như y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở...; 2) Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng, việc làm; 3) Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện điều kiện sống của nhân dân.

Hệ thống chính sách ASXH đã được cải cách mạnh mẽ từ đầu những năm 90 thế kỷ XX. Trong đó, hệ thống Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bảo hiểm y tế (BHYT) là nòng cốt trên cơ sở nguyên tắc ba bên cùng tham gia (người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước) để giảm bớt gánh nặng của ngân sách nhà nước  và hướng đến xã hội hóa các hoạt động ASXH, phù hợp với quá trình chuyển đổi từ thực hiện ASXH theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, phân phối bình quân, hoàn toàn do Nhà nước đảm nhiệm, sang mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN. Phạm vi đối tượng tham gia các hình thức BHXH và BHYT ngày càng được mở rộng.

Về BHXH, hiện có hai loại là BHXH bắt buộc (được áp dụng cho khu vực chính thức, gồm người lao động trong các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên) vàBHXH tự nguyện (do người lao động tự nguyện, có mức đóng góp thấp, phù hợp với khả năng thu nhập nên mức hưởng thụ cũng thấp).

Về BHYT, gồm BHYT bắt buộc (áp dụng cho người lao động trong khu vực chính thức); BHYT tự nguyện (áp dụng cho các đối tượng học sinh, sinh viên và mọi người dân); BHYT người nghèo (người nghèo được Nhà nước cấp thẻ BHYT).

Ngoài ra còn có các chương trình ASXH không dựa trên sự đóng góp của người dân như Trợ giúp xã hội (gồm trợ giúp xã hội thường xuyên, trợ giúp xã hội đột xuất). Nhà nước tạo cơ chế để hình thành nhiều loại quỹ xã hội, nhân đạo, từ thiện để trợ giúp các đối tượng xã hội như “Quỹ vì người nghèo”, “Quỹ tấm lòng vàng”, “Quỹ nạn nhân chất độc da cam”, “Quỹ bảo trợ trẻ em”, các quỹ của Hội chữ thập đỏ... Khi có thiên tai và rủi ro xảy ra, ngoài sự trợ giúp của các địa phương và người dân tại địa bàn, Nhà nước có chính sách trợ giúp xã hội đột xuất để nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống cho các thành viên trong xã hội.

Trong hệ thống chính sách ASXH của Việt Nam còn có Chính sách thị trường lao động, gồm hai nhóm chính là Chính sách tín dụng và Chính sách xuất khẩu lao động nhằm hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, người khuyết tật, người đi xuất khẩu lao động, người lao động bị mất việc làm...

Chính sách ASXH còn được kết hợp chặt chẽ với các chương trình, chính sách xã hội khác như Chương trình xóa đói, giảm nghèo, Chính sách với người có công, Chính sách tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và dịch vụ cá nhân như nhà ở, giáo dục, y tế, chăm sóc trẻ em... cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, dễ bị tổn thương.

Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự cố gắng của toàn dân, công tác bảo đảm ASXH ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, được quốc tế đánh giá cao: số hộ nghèo giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn 9,5% (năm 2011); chỉ số phát triển con người (HDI) tăng từ mức 0,683 (năm 2000) lên mức 0,728 (năm 2011), xếp thứ 128/187 nước thuộc nhóm trung bình cao của thế giới. Năm 2011, Việt Nam đã hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) do Liên Hợp quốc đề ra cho các nước đang phát triển đến năm 2015.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn không thể phủ nhận, công tác bảo đảm ASXH ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Đó là: giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa vùng miền, bất bình đẳng có xu hướng tăng. Hệ số GINI tăng từ 0,35 (năm 2008) lên hơn 0,4 (năm 2010). Công tác tạo việc làm chưa bền vững, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn, vùng đô thị hóa và thất nghiệp thành thị có xu hướng tăng. Nguồn lực thực hiện ASXH còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước với diện bao phủ và mức độ thấp, chưa theo kịp với sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp, mới bằng 20% lực lượng lao động (năm 2011). Bảo hiểm bắt buộc mới bao phủ 70% lao động thuộc diện bắt buộc tham gia, dẫn đến nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH cao; BHXH tự nguyện mới thu hút 0,22% số lao động thuộc diện tham gia(1).[1] Quỹ BHYT đã và đang thâm hụt ngày càng lớn với mức hàng nghìn tỷ đồng hằng năm.

Tình hình trên đã và đang đặt ra những thách thức đối với việc bảo đảm ASXH ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và nước ta đang thực hiện tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Những thách thức đó, theo ý kiến của các chuyên gia và nhiều nhà quản lý, tập trung vào những vần đề sau đây:

Một là, những hạn chế của bản thân hệ thống chính sách, pháp luật về ASXH và công tác tổ chức thực hiện chưa theo kịp với đòi hỏi của kinh tế thị trường định hướng XHCN và xu hướng phát triển của thế giới.

Nhìn chung, hệ thống chính sách ASXH của Việt Nam còn đang trong quá trình hình thành, chưa đồng bộ, hệ thống văn bản pháp luật về ASXH chưa đầy đủ và chưa hoàn thiện. Một số chính sách ASXH còn những điểm bất hợp lý, chưa có các chính sách ASXH đặc thù và phù hợp với dân cư nông thôn và các vùng dân tộc, miền núi có điều kiện sống khó khăn. Mức độ bao phủ, tác động của các chương trình ASXH chưa cao, có một số chương trình tính khả thi thấp. Hệ thống chính sách trợ giúp về việc làm, thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo... chậm được kết nối vào hệ thống tổng thể về ASXH dẫn đến sự chồng chéo, chưa đáp ứng được yêu cầu. Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người dân; chất lượng các dịch vụ còn thấp, còn xảy ra không ít hiện tượng tiêu cực, phiền hà.

Nguồn tài chính cho ASXH còn thấp và thiếu tính bền vững do nguồn lực đầu tư của Nhà nước cho ASXH còn hạn chế, trong khi nhu cầu ASXH của người dân ngày càng tăng, khả năng huy động từ các nguồn khác, nhất là trong cộng đồng và các vùng nông thôn còn khó khăn, thiếu các chế tài buộc các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đóng góp BHXH, BHYT cho người lao động. Công tác tổ chức thực hiện chính sách ASXH chưa theo kịp yêu cầu. Hệ thống hành chính, sự nghiệp cung cấp dịch vụ ASXH còn hạn chế về năng lực tổ chức và quản lý, chưa đa dạng, linh hoạt theo yêu cầu của cơ chế thị trường.

Hai là, các nguy cơ, rủi ro kinh tế, xã hội, môi trường ngày càng có xu hướng gia tăng trong quá trình Việt Nam thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và hội nhập quốc tế, gây áp lực tới bảo đảm ASXH cho người dân, nhất là các nhóm xã hội yếu thế.

Hiện nay, Việt Nam đang chuyển từ mô hình phát triển bề rộng, sử dụng nhiều lao động phổ thông giản đơn và vốn, tài nguyên, hiệu quả thấp sang phát triển theo chiều sâu, nâng cao giá trị gia tăng, tập trung vào các ngành có hàm lượng công nghệ cao, phát triển kinh tế tri thức. Quá trình đó  gắn với tái cấu trúc lại nền kinh tế, phân bổ hợp lý hơn các nguồn lực, tạo ra sự phân công lao động xã hội mới đã, đang và sẽ tạo ra những dòng di chuyển việc làm, di chuyển lao động diễn ra ngày càng mạnh, gây nên những biến đổi xã hội, thay đổi cơ cấu xã hội - dân cư, nghề nghiệp, thay đổi mức sống và lối sống...

Tình hình trên sẽ tác động mạnh tới các khía cạnh của ASXH, đặt ra những thách thức mới như vấn đề việc làm, cơ cấu lại lao động ngành nghề, thu nhập, nhà ở, giáo dục, y tế, gia tăng thất nghiệp, phân hóa xã hội, phân tầng thu nhập, bất bình đẳng xã hội... Dưới tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, các nhóm yếu thế dễ bị tổn thương hơn do hạn chế về khả năng cạnh tranh, phòng ngừa rủi ro, tìm kiếm cơ hội vươn lên, tạo áp lực lớn cho việc bảo đảm quyền và cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, quyền thụ hưởng các chính sách ASXH của họ.

Mặt khác, là một nước nông nghiệp đang phát triển, Việt Nam còn chịu tác động của các nguy cơ bất ổn truyền thống và phi truyền thống từ bên ngoài, như khủng hoảng kinh tế - tài chính, biến động giá lương thực và năng lượng trên thế giới, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh nảy sinh từ sự biến đổi của khí hậu toàn cầu kèm theo tình trạng nước biển dâng, tình trạng ô nhiễm môi trường nước, không khí, khai thác tài nguyên, khoáng sản bừa bãi đe dọa đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Theo cảnh báo của các chuyên gia, hậu quả của nước biển dâng sẽ thu hẹp đáng kể diện tích đất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng là nguy cơ lớn về ASXH của hàng triệu người.

Ba là, hiện tượng già hóa dân số cũng đặt ra nhiều khó khăn cho hệ thống ASXH hiện tại và tương lai. Theo ước tính của Ủy ban quốc gia Người cao tuổi, tỷ lệ người cao tuổi ở Việt Nam sẽ là 16% vào năm 2020 và tiếp tục tăng vào những năm sau đó. Điều này sẽ tạo áp lực lớn lên hệ thống y tế, BHXH, các dịch vụ chăm sóc xã hội cho người cao tuổi.

Bốn là, trong quá trình đổi mới nói chung và đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế nói riêng, nhiều vấn đề ASXH bức xúc, mới phát sinh chưa được giải đáp một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức về vai trò của ASXH của các cơ quan quản lý các cấp, các ngành và của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tổ chức, doanh nghiệp và người dân còn hạn chế, chưa đúng và chưa đầy đủ, chưa coi ASXH là cơ sở bền vững của ổn định chính trị - xã hội, là một trong những mục tiêu và động lực phát triển bền vững đất nước. Vì vậy mới có tình trạng nhiều doanh nghiệp và cơ sở sản xuất cố tình nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ đóng BHYT, BHXH cho người lao động, nhiều địa phương và đơn vị chạy theo lợi nhuận, hiệu quả kinh tế thuần túy mà không tính đến khía cạnh ASXH, bảo đảm môi trường và điều kiện sống cho dân cư khi xây dựng và thực hiện các dự án, các hoạt động dịch vụ và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Trên thực tế vẫn còn tâm lý trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, vào các tổ chức sự nghiệp công lập trong việc bảo đảm hệ thống cung cấp dịch vụ ASXH mà chưa tìm cách phát huy vai trò của cộng đồng theo hướng xã hội hóa, đa dạng hóa, thu hút các nguồn lực ngoài Nhà nước tham gia.

2. Một số kiến nghị về đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH trong thời gian tới

Về quan điểm

Một là, việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Đảng và Nhà nước là kết hợp hài hòa giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội với bảo đảm ASXH ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Phát triển hệ thống chính sách ASXH phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; bảo đảm quyền và nghĩa vụ cơ bản của mọi người dân, ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.

Hai là, phát triển hệ thống chính sách ASXH và bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách ASXH, đồng thời phát huy vai trò và trách nhiệm của cá nhân, hộ gia đình, người lao động, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc bảo đảm ASXH theo tinh thần xã hội hóa, tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh.

Ba là, hệ thống ASXH phải đa dạng, đa tầng, toàn diện, linh hoạt, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng, phù hợp với nội dung, cách tiếp cận và chuẩn mực mang tính hội nhập quốc tế.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách ASXH.

Về phương hướng

Căn cứ định hướng phát triển hệ thống chính sách ASXH tại “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020” được thông qua tại Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI của Đảng “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” xác định: “Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm ASXH toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân”[1](2).

Để xây dựng một mô hình hệ thống ASXH hướng tới bao phủ toàn dân, phù hợp với chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta coi “con người là trung tâm của sự phát triển”, đảm bảo cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân, cần lựa chọn và vận dụng mô hình của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) với các bộ phận trụ cột cấu thành là: BHXH, BHYT, bảo trợ xã hội và ưu đãi xã hội.

Theo đó, hệ thống chính sách ASXH có thể chia làm 3 tầng hay 3 nhóm chính: 1) Nhóm các chế độ ASXH hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng và cùng chia sẻ rủi ro, mọi chi phí đều được chi trả bởi nguồn quỹ chung, bao gồm BHXH (bắt buộc và tự nguyện), BHYT; 2) Nhóm các chế độ ASXH không dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng mà dựa vào ngân sách nhà nước chi trả, gồm các chính sách về trợ giúp xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội giành cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do gặp phải rủi ro và những người có công được đền ơn, đáp nghĩa; 3) Nhóm các chế độ ASXH gắn với các chương trình xã hội khác, kết hợp Nhà nước và nhân dân, cộng đồng xã hội thực hiện, gồm các chương trình xóa đói, giảm nghèo, việc làm, y tế, nhà ở... và các loại quỹ bảo hiểm, các loại bảo hiểm khác.

Trong điều kiện cụ thể và những hạn chế nhất định về nguồn lực, hệ thống ASXH nước ta cần tiếp cận phát triển theo hướng: 1) Phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; 2) Tập trung hỗ trợ người nghèo, người dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh đặc thù; 3) Mở rộng xã hội hóa việc huy động nguồn lực thực hiện ASXH; 4) Thích ứng với sự hợp tác quốc tế.

Về giải pháp

Cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp cơ bản mang tính định hướng sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, các chính sách và giải pháp bảo đảm ASXH. Cụ thể là:

- Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật về ASXH, trong đó cần nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Việc làm, Luật Tiền lương tối thiểu, Luật Cứu trợ xã hội, Luật Ưu đãi xã hội; nghiên cứu sửa đổi Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Người tàn tật, Luật Người cao tuổi...; nghiên cứu ban hành các văn bản pháp luật về ASXH cộng đồng, nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện đồng bộ, nghiêm túc, hiệu quả các quy định, chính sách, chế độ ASXH.

- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách hiện hành về ASXH, kể cả BHXH, BHYT, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, hệ thống hỗ trợ tích cực...

- Phối hợp đồng bộ chính sách ASXH với các chính sách kinh tế, xã hội khác, như: chính sách việc làm, chính sách tiền lương và thu nhập, thực hiện các chương trình hỗ trợ tích cực, các chương trình mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững..., tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho các đối tượng và vùng đặc thù.

Hai là, hoàn thiện tổ chức, bộ máy, cơ chế quản lý, thực hiện công tác ASXH theo hướng đa dạng hóa tổ chức dịch vụ ASXH. Rà soát, củng cố và hoàn thiện hệ thống các cơ quan thực hiện công tác ASXH các cấp từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở. Tăng cường lực lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH.

Ba là, đổi mới quản lý nhà nước về ASXH. Tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH; thực hiện tốt sự phối kết hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và mạng lưới các tổ chức thực hiện chính sách ASXH; hiện đại hóa công tác quản lý đối tượng ASXH, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về chính sách ASXH tại mỗi địa phương để nhân dân có thể truy cập dễ dàng; tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hiện công tác ASXH ở tất cả các cấp, các ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương và cơ sở, thực hiện tiết kiệm chi tiêu công, chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ASXH; xây dựng bộ chỉ số ASXH làm cơ sở để theo dõi, đánh giá hiệu quả thực hiện ASXH của đất nước trong từng thời kỳ và tham chiếu với quốc tế.

Bốn là, tăng cường công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các thông tin về ASXH nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể và người dân về lĩnh vực này.

Năm là, tăng cường sự đầu tư của Nhà nước, làm tốt công tác xã hội hóa, huy động sự tham gia của toàn xã hội và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế trong việc đảm bảo ASXH.

- Nhà nước tăng cường đầu tư bảo đảm nguồn lực và cơ chế tài chính thực hiện ASXH theo phương châm từng bước mở rộng diện bao phủ tiến tới bao phủ toàn dân. Quản lý chặt chẽ quỹ ASXH, hình thành các quỹ dự phòng và cơ chế hỗ trợ kịp thời cho các đối tượng khi có rủi ro đột xuất.

Đổi mới việc phân bổ nguồn lực, đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu của các chính sách ASXH. Phân cấp mạnh cho các địa phương và đề cao trách nhiệm của địa phương trong việc quản lý, sử dụng, lồng ghép các nguồn lực để thực hiện. Hoàn thiện các quy định về quản lý việc sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân, bảo đảm minh bạch, hiệu quả.

- Khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đa dạng các mô hình ASXH, các hoạt động từ thiện, tình nguyện dựa vào sự tham gia của cộng đồng (các đoàn thể địa phương, các nhóm sở thích, nghiệp đoàn, gia đình, dòng họ, cá nhân...) trong việc cung cấp các dịch vụ ASXH, thực hiện các hoạt động nhân đạo, giúp đỡ, chia sẻ rủi ro đối với những nhóm yếu thế, những đối tượng đặc thù.

- Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm trong xây dựng và thực hiện các chính sách ASXH.
___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1/2014

(1) Xem Nguyễn Trọng Đàm: “An sinh xã hội ở Việt Nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống nhất”, Tạp chí Cộng sản, Số 834 (tháng 4/2012), tr.42.

(2) ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”, Báo Nhân Dân điện tử ngày 6/6/2012.

Nguồn: lyluanchinhtri.vn

Các tin liên quan Gửi email In [Quay lại]
 
ĐBSCL trước những thách thức về phát triển bền vững (21/9) (21/09/2017)
Phân hạng doanh nghiệp xanh thông qua bộ chỉ số tăng trưởng xanh của doanh nghiệp sản xuất (GEI) (24/08/2017)
Một số vấn đề về cải thiện cơ cấu và đổi mới chính sách đầu tư nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam (02/03/2015)
Những cải cách thế chế tạo nên sự khác biệt của năm 2014 (28/01/2015)
Những vấn đề đặt ra đối với an sinh xã hội từ công tác tái định cư tại các công trình thủy điện (19/01/2015)
Mối quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam (phần 2) (05/05/2014)
Mối quan hệ giữa tăng trưởng, lạm phát, tiết kiệm và đầu tư tại Việt Nam (Phần 1) (13/03/2014)
Mở cửa tư duy để hưng thịnh nước nhà (06/03/2014)
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2011- 2015: Một chặng đường, nhiều giải pháp (25/02/2014)
Bàn về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (06/02) (06/02/2014)
1 2 3 Trang sau » Trang cuối »
Tin nổi bật
Quốc hội đã tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh giải quyết nợ xấu (22/6)
Kết quả thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020
Báo cáo kinh tế vĩ mô quí IV và năm 2016
Hội nghị Trung ương 5 sẽ ra nghị quyết về kinh tế tư nhân
Liên kết
Thông tin dịch vụ
THÔNG BÁO
Thành viên đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Đăng ký  |  Quên mật khẩu
Ấn phẩm của viện