Đăng ký   |    English
Trang chủPhát triển các loại thị trường
Khu vực phi chính thức - nhìn từ góc độ lao động (30/3)
(30/03/2016)
Trong các báo cáo kinh tế vĩ mô, ngay sau khi những con số tăng trưởng GDP ấn tượng xuất hiện, như một quy luật, liền sau đó sẽ là những con số hoành tráng về thành tích xuất khẩu, về thu hút đầu tư nước ngoài. Những dòng tin kinh tế trên mặt báo thường ngày cũng không khác là bao, những tập đoàn, công ty lớn luôn tràn ngập mặt báo. Ít người nhận ra rằng, Việt Nam thay da đổi thịt hàng ngày, một phần quan trọng là nhờ vào kinh tế cá thể. Đóng góp này đặc biệt thể hiện rõ trên phương diện tạo việc làm.

Vai chính

Nhìn vào cấu trúc thị trường lao động tại Việt Nam năm 2014(1), trong khi “điểm sáng” về xuất khẩu - khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), hay khu vực được gắn cho vai trò “chủ đạo” - doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chỉ thu hút tương ứng 2 triệu và 1,4 triệu lao động thì nhóm hộ gia đình kinh doanh phi nông nghiệp đang tạo ra 11 triệu việc làm (trong tổng số 52,6 triệu lao động của Việt Nam). Nghĩa là nhóm được gọi là khu vực phi chính thức này tạo ra số lượng việc làm gấp 5 lần doanh nghiệp FDI, gấp 7 lần DNNN - vốn là hai nhóm luôn thu hút sự quan tâm và nhận được ưu đãi nhiều nhất từ Nhà nước.

Quan trọng là vậy, nhưng cũng như cái tên “siêu nhỏ, nhỏ, và vừa” mà chúng được gọi, nhóm này luôn bị thiệt thòi: các chính sách, vốn chưa bao giờ “thân thiện” và “cởi mở’ với nhóm này. Luật Doanh nghiệp 2005 rồi Luật Doanh nghiệp 2014 đều quy định: hộ kinh doanh cá thể sử dụng trên 10 lao động phải chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Lập luận của Nhà nước về lợi ích của việc chuyển đổi có vẻ thật thuyết phục. Đối với người lao động, đó là việc được bảo vệ tốt hơn về quyền lợi. Bởi đồng nghĩa với việc ký hợp đồng lao động chính thức, họ được tiếp cận đầy đủ bảo hiểm xã hội và các phúc lợi khác đi kèm. Làm việc có hợp đồng cũng giúp giảm bớt rủi ro khi xảy ra những tranh chấp về lao động do nhận được sự bảo vệ từ các tổ chức công đoàn. Đối với chủ hộ kinh doanh, một khi trở thành doanh nghiệp, những hứa hẹn lợi ích cũng thật nhiều: có tư cách pháp nhân; được bảo vệ tài sản qua việc chịu trách nhiệm hữu hạn với phần vốn góp và tài sản công ty; chỉ đóng thuế trên phần lợi nhuận thu được; thuận lợi khi chuyển nhượng quyền sở hữu. Đối với Nhà nước, quản lý nhóm chính thức bao giờ cũng dễ dàng hơn nhóm phi chính thức, dù là trong lĩnh vực thuế, môi trường, an toàn hay lao động.

Cần có một chiến lược hỗ trợ lâu dài, tiếp thêm lực đẩy tự nhiên cho quá trình chuyển đổi khu vực phi chính thức thành chính thức chứ không nên là những thúc ép hành chính như hiện nay.

Tuy nhiên, tâm lý “lý tưởng hóa” doanh nghiệp đã khiến các cơ quan nhà nước thúc ép các hộ cá thể phải chuyển đổi bằng biện pháp hành chính hơn là một quá trình chuyển đổi tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của bản thân các hộ. Trong khi đó, các chính sách cơ bản hiện tại đang gây khó hơn là tạo lực đẩy chuyển đổi đến nhóm này.

Nhưng vai yếu

Nhiều chuyên gia cho rằng, các quy định về quan hệ lao động trong khu vực chính thức, gồm thuê mướn, tuyển dụng, sa thải và chấm dứt hợp đồng lao động, đang quá khắt khe và được thiết kế theo hướng nặng về bảo vệ việc làm (hiện có), gây khó khăn nhiều hơn cho người sử dụng lao động (cần lưu ý rằng quy định đang hướng tới bảo vệ việc làm, chứ chưa hẳn là bảo vệ lợi ích cho người lao động). Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCED), những quy định bảo vệ việc làm này của Việt Nam hiện đang cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn toàn cầu. Theo đó, sau khi Luật Lao động 2014 và Luật Công đoàn 2012 được thông qua, Việt Nam đang nằm trong số những nước có các quy định bảo vệ việc làm khắt khe nhất.

Ở chiều ngược lại, vấn đề đào tạo lao động, một trong những vấn đề khu vực phi chính thức quan tâm nhất, lại không nhận được sự hỗ trợ thích đáng từ Nhà nước. Điểm yếu nhất của khu vực phi chính thức, từ trước đến nay luôn là chất lượng lao động. Những người làm việc trong các hộ cá thể hầu hết là do tự đào tạo, vừa làm vừa học hơn là qua đào tạo nghề ở các trường lớp chính quy. Trong khi đó, lao động có kỹ năng và tính chuyên nghiệp có xu hướng dịch chuyển vào khu vực chính thức, nơi có lương thưởng, điều kiện làm việc và phúc lợi tốt hơn. Với chất lượng lao động như vậy, năng suất lao động trong khu vực này không những không tăng mà còn liên tục giảm trong những năm vừa qua là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, thật khó để yêu cầu các hộ kinh doanh cá thể, cũng như doanh nghiệp nhỏ và vừa tự đầu tư vào việc đào tạo lao động, bởi xác suất mất lao động sau đào tạo là rất cao. Do đó, đào tạo nghề, nhất là đào tạo ngắn hạn, đào tạo gắn với nhu cầu công việc là lĩnh vực mà khu vực cá thể cần nhận được hỗ trợ nhất từ Nhà nước.

Bắt đầu lại

Trên thực tế, đào tạo nghề lại là một trong những khâu yếu kém và thiếu hiệu quả nhất của Việt Nam hiện nay. Sự quan tâm cho đào tạo nghề là có, ngân sách hỗ trợ là lớn, nhưng trong khâu thực thi, các chương trình đào tạo và đối tượng đào tạo gần như tách rời và không phục vụ trực tiếp cho nhu cầu và lợi ích của người sử dụng lao động. Cách tổ chức chương trình, khóa đào tạo như đang thực hiện hiện nay phần lớn chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu “giải ngân cho dự án”, làm lợi cho những trường nghề “thân cận” với những cơ quan ban ngành liên quan, chứ không mang lại nhiều lợi ích cho cả người học nghề lẫn người sử dụng lao động. Thiết kế lại mô hình dạy nghề, trong đó, đặt lợi ích của doanh nghiệp dân doanh vào trung tâm, phục vụ trực tiếp nhu cầu và lợi ích của nhóm này, là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh hiện nay.

Kinh nghiệm phong phú và những cách làm hiệu quả của thị trường đào tạo ở khu vực tư có thể cung cấp cho việc thiết kế và thực thi các chính sách nhiều bài học hữu ích. Để tăng tính hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề của khu vực nhà nước hiện nay, một cơ chế có thể xem xét là đấu thầu và thực hiện theo hợp đồng các dịch vụ đào tạo theo nhu cầu của người sử dụng lao động. Theo đó, các doanh nghiệp tư, cơ sở đào tạo tư tham gia cạnh tranh với khu vực công hiện nay trong các hoạt động đào tạo cho lao động. Nhà nước chi trả các chi phí đào tạo đó cho bên cung cấp dịch vụ đào tạo, miễn là đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, chứ không quan trọng bên cung cấp dịch vụ là công hay tư.

Khu vực phi chính thức, tất nhiên có những điểm yếu cố hữu, đó là tính manh mún và năng suất thấp, là yếu kém trong điều kiện lao động và phúc lợi, nhưng vai trò lớn lao của khu vực này đã được khẳng định. Và với những đặc điểm và bối cảnh Việt Nam, chắc chắn trong thời gian dài sắp tới, khu vực này sẽ vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Do đó, chuyển đổi khu vực phi chính thức thành chính thức, dù là cần thiết, nhưng cần có một chiến lược hỗ trợ lâu dài, tiếp thêm lực đẩy tự nhiên cho quá trình chuyển đổi chứ không nên là những thúc ép hành chính như hiện nay. Để phát triển dài hạn và bền vững, một môi trường vĩ mô ổn định, sự nhất quán về chính sách, môi trường kinh doanh thông thoáng và cạnh tranh, chi phí thủ tục hành chính thấp, quyền sở hữu được đảm bảo, vẫn là những điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài nhà nước nói chung.

--

(*) Vietnamese Policy Online - vpo.org.vn

(1) Số liệu dẫn từ báo cáo Điểm lại cập nhật tình hình Kinh tế Việt Nam tháng 7- 2015 của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam

Nguồn: TBKTSG


Các tin liên quan Gửi email In [Quay lại]
 
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO TÍNH ĐỘC LẬP CỦA ĐƠN VỊ ĐIỀU TIẾT ĐIỆN LỰC VÀ ĐƠN VỊ VẬN HÀNH HỆ THỐNG ĐIỆN, GIAO DỊCH THỊ TRƯỜNG ĐIỆN NHẰM THÚC ĐẨY THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH (17/02/2017)
Phát triển nguồn năng lượng tái tạo trong cải cách thị trường điện cạnh tranh: Kinh nghiệm của CHLB Đức và một số kiến nghị (17/02/2017)
Vì sao các “ông lớn” bán lẻ truyền thống “đua nhau” đóng cửa hàng? (20/01) (20/01/2016)
Tăng cường quản lý đất đai để thúc đẩy phát triển thị trường bất động sản Việt Nam hiện nay (22/01/2015)
Tái cơ cấu hệ thống giám sát thị trường tài chính Việt Nam (04/09/2014)
Một số giải pháp phát triển thị trường hàng hóa trong nước (20/06/2014)
Thực trạng về hàng Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam, cơ chế, chính sách đối với người tiêu dùng và những vấn đề đặt ra (27/12/2013)
Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong việc khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất trong nước (27/12/2013)
Coi trong phát triển thị trường tiêu dùng nội địa (14/05/2010)
Thị trường bất động sản Việt Nam thực trạng và giải pháp (08/06/2009)
1 2 3 Trang sau » Trang cuối »
Tin nổi bật
Quốc hội đã tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh giải quyết nợ xấu (22/6)
Kết quả thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020
Báo cáo kinh tế vĩ mô quí IV và năm 2016
Hội nghị Trung ương 5 sẽ ra nghị quyết về kinh tế tư nhân
Liên kết
Thông tin dịch vụ
THÔNG BÁO
Thành viên đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
Đăng ký  |  Quên mật khẩu
Ấn phẩm của viện